024.37916621
  • APN


I.1. Nghiên cứu

1. Các đợt lấy mẫu nước và phân tích mẫu trong phòng thí nghiệm (TS Dương Thị Thủy; TS Hồ Tú Cường; KS Nguyễn Thị Bích Ngọc; CN Vũ Duy An và TS Nguyễn Thị Mai Hương):
 
2.  Chất lượng nước sông và hàm lượng cacbon
       Do thiếu cơ sở dữ liệu chất lượng nước hoàn chỉnh của lưu vực sông Hồng, các đợt lấy mẫu thực địa hàng tháng đã được tổ chức tại 10 trạm thủy văn Yên Bái, Vũ Quang, Hòa Bình, Sơn Tây, Hà Nội, Gián Khẩu, Nam Định, Trúc Phương, Ba Lạt, Quyết Chiến của hệ thống sông Hồng từ tháng 8 năm 2012 đến tháng 12 năm 2014.

                                                                                   
Hình: Vị trí các điểm lấy mẫu trên sông Hồng
                                     
         
        Mẫu nước ngay lập tức được lọc qua giấy  lọc đường kính 47mm Whatman GF/F (kích thước lỗ 0.7μm) và được bảo quản ở 40C khi vận chuyển về phòng thí nghiệm. Chlorophyll a, thực vật phù du và tảo cát periphytic, coliform được xác định tại phòng thí nghiệm IET. Các ions (K +, Na +, Ca 2 +, Mg 2 +) được đo bằng phương pháp hấp thụ nguyên tử quang phổ (AAS). Các dạng cacbon khác nhau (chủ yếu là DIC, DOC và POC) và các chất dinh dưỡng (N, P và Si) được xác định tại phòng thí nghiệm INPC bằng các phương pháp APHA (APHA, 1995). Nồng độ CH4 và CO2 được đo bằng cách sử dụng sắc ký khí (GC, Agilent) với đầu dò ion hóa ngọn lửa (FID) và và đầu dò dẫn nhiệt (TCD), tương ứng (Hình 1.).
 
   
 

        
Hình: Đo tại chỗ và phân tích trong phòng thí nghiệm
  Nguồn thải điểm và nguồn thải phát tán
        Hơn 100 mẫu nước thải nông nghiệp và công nghiệp trong cả mùa khô và mùa mưa đã được lấy và phân tích với các thông số chất lượng nước như  đã trình bày ở trên.
       Một số kết quả về chất lượng nước của hệ thống sông Hồng và kênh tưới tiêu trong vùng đất canh tác nông nghiệp ở Hà Nội đã được tổng hợp và công bố trên Tạp chí Môi trường Việt Nam (Đức), Tạp chí Sinh học Việt Nam và tạp chí phát triển Nông nghiệp và Nông thôn Việt Nam. Những kết quả này cũng được sử dụng cho nghiên cứu ứng dụng mô hình.

 
     
Hình: Hình ảnh lấy mẫu nước thải công nghiệp và nông nghiệp.
  3. Đo trao đổi và bốc thoát khí chứa cacbon (TS Cyril Marchand, TS Lê Thị Phương Quỳnh, TS Hồ Tú Cường; ThS Nguyễn Thị Mai Hương; KS Nguyễn Thị Bích Ngọc và CN Vũ Duy An):
       TS Cyril Marchand từ IRD, một thành viên mới của dự án, là một chuyên gia trong lĩnh vực nghiên cứu về chu trình các bon, tham gia vào thiết kế chương trình đo đạc bốc thoát khí chứa cacbon tại năm địa điểm từ thượng lưu đến hạ lưu sông Hồng trong mùa mưa và mùa khô năm 2014, bằng các phương pháp khác nhau: tính toán các tải lượng CO2 bằng cách sử dụng một buồng nổi kết nối với máy đo IRGA, hoặc xác định pCO2 trong cột nước bằng cách sử dụng ống cân bằng (equilibrator) (trong hình 4a). Trong cả hai phương pháp, kết quả bước đầu cho thấy tải lượng CO2 từ hệ thống sông Hồng được đặc trưng bởi sự biến đổi theo không gian và theo mùa đáng kể.  CTải lượng CO2 đã được quan sát vào mùa mưa (tháng 9 năm 2014)  cao hơn so với vào mùa khô (tháng 11 năm 2014).
       Các kết quả cuối cùng của các phép đo này sẽ được tổng hợp để công bố trên tạp chí quốc tế chuyên ngành trong thời gian tới.

                 
                                   Hình: Đo đạc trao đổi cacbon tại giao diện mặt nước-không khí
                             
4. Thu thập dữ liệu từ các nguồn khác nhau (GS Zhou Yue, TS Lu XiXi, TS Lê Thị Phương Quỳnh, CN Trần Thị Bích Nga, ThS Nguyễn Thị Mai Hương):
       Các dữ liệu đã có của sông Hồng trong chuỗi thời gian dài  (kể từ năm 1960) nhưng rất rời rạc, bao gồm chất lượng nước, sử dụng đất đai, dân số, phát triển nông nghiệp và công nghiệp, quản lý thủy văn, và các dữ liệu khí tượng đã được thu thập từ các nguồn khác nhau, như từ các kết quả của các dự án nghiên cứu trước đây, dữ liệu đã công bố trên sách, báo cáo quốc gia hoặc các dữ liệu từ các cơ quan chuyên ngành khác nhau...
       + Thu thập và tổng hợp các dữ liệu đã có rời rạc theo chuỗi thời gian (kể từ năm 1960) về chất lượng nước,  nước thải công nghiệp và nông nghiệp, khí tượng, thủy văn, dân cư và sử dụng đất của toàn bộ lưu vực sông Hồng ở cả địa phận Trung Quốc và Việt Nam;
       + Thu thập dữ liệu cho các kịch bản tương lai : Dữ liệu khí hậu (nhiệt độ không khí và lượng mưa); xây dựng các hồ chứa mới, thay đổi sử dụng đất cùng với phát triển sản xuất nông nghiệp, sản xuất công nghiệp,  gia tăng dân số và đô thị hóa của lưu vực năm 2050.

       Việc thu thập dữ liệu được sử dụng cho:
i) đánh giá chất lượng  mô hình về mô tả chuyển tải và bốc thoát khí chứa cacbon dưới tác động của các hoạt động của con người và điều kiện tự nhiên ở lưu vực sông Hồng trong quá khứ, hiện tại và tuơng lai.
ii) tính toán phát thải khí chứa C và tải lượng chuyển tải cacbon từ sông Hồng ra biển.
 
5. Ứng dụng mô hình
       Đánh giá chất lượng nước sông, ước tính phát thải khí chứa C từ sông Hồng; Mô tả và xác định các thông số (địa chất, lượng mưa, các hồ chứa, sử dụng đất đai, nông nghiệp, dân số,...) ảnh hưởng tới các tải lượng chuyển tải và phát thải khí thải khí chứa C từ sông Hồng (TS Dương Thị Thủy; ThS Nguyễn Thị Mai Hương, TS Lê Thị Phương Quỳnh, TS Lu XiXi; TS Hồ Tú Cường; GS Zhou Yue).
       Để sử dụng mô hình RIVERSTRAHLER /SENEQUE tính toán sự ô nhiễm cacbon ở quy mô toàn bộ mạng lưới sông Hồng, số liệu sẵn có về chất lượng nước của những con sông nhỏ thượng nguồn và số liệu về hiện trạng sử dụng đất đã được thu thập  và cho phép xác định các nguồn phát tán vào mặt nước. Ngoài ra, dữ liệu về nước thải, với mức độ xử lý khác nhau, đã được sử dụng để mô tả các nguồn thải điểm. Những số liệu này cùng với kết quả từ phân tích trong phòng thí nghiệm được sử dụng nhằm cải tiến các thông số của mô hình. Các kết quả bước đầu của mô hình cho thấy có sự phù hợp giữa các giá trị tính toán và giá trị quan sát tại các trạm quan trắc. Các kết quả cuối cùng về đo đạc thực địa và ứng dụng  mô hình đang được tổng hợp để công bố trên các tạp chí chuyên ngành trong thời gian tới.

                                                                                                                              
Hình: Dữ liệu đầu vào (input) cho mô phỏng chuyển tải chất hữu cơ của mô hình SENEQUE / RIVERSTRAHLER
        Trong thời gian tới, chúng tôi tiếp tục nghiên cứu áp dụng mô hình RIVERSTRAHLER /SENEQUE để mô phỏng chất lượng  nước hệ thống sông Hồng, tập trung vào các quá trình tự dưỡng/dị dưỡng liên quan tới phát thải CO2 từ hệ thống sông. Đặc biệt, các phép đo phát thải khí CO2 tại các vị trí khác nhau trên hệ thống sông Hồng sẽ được so sánh với các kết quả của mô hình về sản xuất và tiêu thụ cacbon. Một cách tiếp cận kép như vậy về "chu kỳ cacbon rộng lớn' trong một hệ thống sông lớn (mô hình hóa chu kỳ cacbon liên quan đến hoạt động của vi sinh vật và đo lường thực tế phát thải khí CO2) sẽ là một thành tựu đầu tiên trong lĩnh vực nghiên cứu này.
       Mô hình sẽ được áp dụng nhằm mô phỏng chuyển tải các dạng chủ yếu của cacbon (từ hòa tan đến không tan, từ hữu cơ đến vô cơ) và bốc thoát khí chứa cacbon ở thời hiện tại, Sau khi hiệu chỉnh các thông số của mô hình ở thời hiện tại, mô hình sẽ được áp dụng cho các kịch bản trong quá khứ và tương lai.
 
Đăng nhập để download
Đăng ký thành viên